Hình tượng ngựa trong văn hóa tín ngưỡng của người Việt

17/02 06:00
 

Trong văn hóa Việt Nam, con ngựa giữ một vai trò đặc biệt, gắn liền với lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng và đời sống tinh thần của người Việt...

Trong văn hóa Việt Nam, con ngựa giữ một vai trò đặc biệt, gắn liền với lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng và đời sống tinh thần của người Việt Nam.

Từ nguồn gốc ngoại sinh đến dấu ấn trong lịch sử và huyền thoại

Ngược dòng thời gian, quê hương ngựa ở miền thảo nguyên Á – Âu, trong đó Mông Cổ vẫn còn giống ngựa hoang là tổ tiên của ngựa nhà đã được thuần hóa.

Ở Việt Nam, kết quả khảo cổ thời đại kim khí (cách ngày nay khoảng hơn 2000 năm), không tìm thấy xương ngựa, mà chỉ tìm thấy xương voi. Ngựa trong văn hóa Việt là yếu tố ngoại sinh, nó đến từ Vân Nam - Tứ Xuyên theo con đường Tây Bắc dọc lưu vực sông Hồng.

Tư liệu sớm nhất nói về ngựa ở Việt Nam thuộc thời Đông Hán (thế kỷ 1 - 2). Các quan lại đô hộ nhà Hán đưa một số ngựa và xe ngựa sang thành Giao Chỉ, Giao Châu. Bởi vậy trong chiến tranh, kỵ binh Đại Việt không phải là lực lượng mạnh, mà thủy Binh, tượng binh mới là lực lượng tinh nhuệ. Hình tượng các bậc anh hùng, tướng lĩnh như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, đến Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung đều cưỡi voi, đi thuyền ra trận, đã đi vào truyền thống quân sự Việt Nam.

Trong tâm thức người Việt, ngựa không gắn liền với đời sống thường nhật, là bạn của con người như con trâu, gắn bó với con người trên đồng ruộng. Song ngựa lại được huyền thoại hóa, trở thành ngựa sắt, phun lửa, đánh giặc. Chuyện người anh hùng làng Phù Đổng Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt, đánh giặc Ân là một huyền tích lạ, đầy chất lãng mạn, song cũng là biểu tượng kỳ vĩ nhất và bất tử của chủ nghĩa anh hùng, mở đầu cho truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.

Trong hội Gióng, tượng ngựa gỗ thờ trong đền Phù Đổng là ngựa trắng. Từ thời cổ tư duy huyền thoại của loài người đã dùng hình tượng ngựa và xe ngựa để biểu thị mặt trời, nên tượng ngựa trắng trong đền cũng biểu tượng cho mặt trời.

Lễ hội Gióng diễn ra từ sáng, song phải đến 12 giờ trưa (chính Ngọ), dân làng mới rước kiệu và tượng ngựa trắng từ đền lên đê để diễn xướng cảnh đánh giặc Ân.

Giặc Ân được biểu tượng bằng 28 nữ tướng, tức “Nhị thập bát tú”, 28 vì sao sáng của bầu trời đêm, tượng trưng cho bóng tối. Thánh Gióng cưỡi ngựa trắng đánh giặc Ân tượng trưng cho mặt trời xua tan đêm tối.

Ở đền Bạch Mã (Hàng Buồm, Hà Nội), cũng thờ một ông ngựa trắng. Huyền thoại kể rằng: Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra Đại La, vua muốn xây một tòa thành mới, song chưa xác định được vị trí ở đâu, hình dáng thế nào.

Một tối khi đi qua đền, ông thấy một vị thần cưỡi ngựa trắng từ trong đền đi ra, chạy một vòng từ Đông sang Tây, rồi quay về Đông, xong vào đền. Sáng hôm sau, Lý Thái Tổ sai quân dân ta cứ theo dấu chân ngựa để lại mà đắp thành Thăng Long. Thần Bạch Mã chính là biểu tượng của thần mặt trời.

Triết lý âm dương và nghệ thuật tạo hình Ngựa trong không gian linh thiêng

Hình tượng Ngựa trở nên phổ biến, xuất hiện vào thời Lê (thế kỷ 15-16) trên gạch trang trí, trong các lăng mộ. Thời hậu Lê (Thế kỷ 15-18), ngựa được tạo hình mộc mạc, khoẻ khoắn, thể hiện tinh thần thượng võ, gắn với tâm linh.

Thời Nguyễn (thế kỷ 19-20), tượng ngựa được tạc tinh xảo, chuẩn hóa, nhấn mạnh nghi lễ và tính biểu trưng cung đình.

Đặc biệt là tượng ngựa gỗ thờ và hình ảnh ngựa trong điêu khắc gỗ trở nên phổ biến và quen thuộc khi đình làng nở rộ vào thời Lê Trung hưng (thế kỷ 17-18).

Thông thường trong không gian đình, đền, miếu, hình tượng ngựa thờ là đôi ngựa màu đỏ và trắng mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Ngựa màu đỏ, màu của lửa, của mặt trời, biểu tượng mạnh mẽ của dương khí, biểu hiện quyền lực hiển linh của thần thánh, tượng trưng cho sức mạnh chiến đấu, trừ tà, bảo vệ chính đạo; ngựa trắng, màu của sự tinh khiết, thanh cao, linh ứng. Đôi ngựa màu đỏ, trắng biểu trưng của cặp âm dương, phản ánh sâu sắc tư duy âm dương và ngũ hành của người Việt.

Ở vùng biển Cát Hải đầy nắng, gió và cát, trong ngôi đình làng Hoàng Châu, thờ một cặp ngựa đỏ, không giống như ở các đình, đền khác là đỏ và trắng. Tuy chỉ một màu đỏ, song đôi ngựa này vẫn biểu trưng cho cặp âm, dương thông qua những hoa văn trang trí, chạm khắc trên yên của ngựa.

Ngựa giáp Đông được chạm nổi, bong kênh biểu tượng “Hổ phù”, “Long mã”, đây là hiện thân của yếu tố “dương”, chỉ mặt trời.

Ngựa giáp Tây chạm biểu tượng “Hổ phù ọe mặt nguyệt”, hiện thân của yếu tố “âm” - chỉ mặt trăng. Với cặp ngựa đình Hoàng Châu đã đủ tư cách là một cặp âm dương đối đãi, nó phản ánh được ước vọng cầu sinh sôi, nảy nở của người dân.

Điều làm nên sự khác biệt của cặp ngựa thờ nơi vùng biển này là ngoài chức năng thờ cúng, cặp hồng mã này còn tham gia vào trò diễn đua ngựa (kéo ngựa gỗ) trong lễ hội Xa mã-Rước kiệu đình Hoàng Châu vào ngày 10 tháng 6 Âm lịch hàng năm.

Trong không gian thiêng của di tích, hình tượng ngựa còn xuất hiện trong điêu khắc gỗ truyền thống. Tại đình Tây Đằng, Hà Nội (thế kỷ 16), ngựa được chạm đứng độc lập trên trụ đấu vì nóc, với đôi cánh vươn lên, như bay vút vào không gian.

Vào thế kỷ 17-18, các mảng chạm hình tượng ngựa luôn gắn với con người như: người cưỡi ngựa (đình Chu Quyến, Hà Nội), người quản ngựa (đình Diềm, Bắc Ninh), Vinh quy bái tổ - Tiến sĩ cưỡi ngựa về làng (đình Liên Hiệp, Hà Nội), cảnh đi săn (đình Hương Canh, Phú Thọ).

Hình tượng Ngựa trong lịch pháp và vận hội mới xuân Bính Ngọ

Không chỉ có vậy, con ngựa còn đi vào lịch pháp Việt Nam với hệ can chi, mà con ngựa là chi Ngọ, đứng hàng thứ 7 trong hệ thống 12 chi, thuộc hành hỏa.

Tháng con ngựa là tháng Ngọ (tháng Năm theo lịch mặt trăng), tháng có tết Đoan Ngọ (mồng 5 tháng 5), nóng nhất trong năm. Theo quan niệm của người xưa, người sinh năm Ngọ, cầm tinh con ngựa là người năng động, thẳng thắn, mạnh mẽ, quyết đoán, trong tình yêu thì chân thành, mãnh liệt.

Thế nên bước sang xuân mới 2026, năm Bính Ngọ, là sự kết hợp của hỏa dương rực rỡ và hình tượng ngựa phóng khoáng. Đây là năm của chuyển động không ngừng, của khát vọng vươn xa.

Đọc bài gốc tại đây.