Trước khi xác lập giấy yêu cầu bảo hiểm, ông Đặng Lâm Quốc B. mắc bệnh ung thư chữa trị nhiều nơi nhưng không khai báo sức khỏe đầy đủ. Sau khi ông chết, người thụ hưởng khởi kiện doanh nghiệp bảo hiểm chi trả song tòa án không chấp nhận.
Từ chối chi trả bảo hiểm vì che giấu bệnh
Quyết định giám đốc thẩm số 37/2023/DS-GĐT ngày 24/8/2023 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm” giữa nguyên đơn là cụ Đặng Ngọc M., bà Trần Thị T., chị Đặng Ngọc Anh T1 với bị đơn là Tổng Công ty V. được chọn làm án lệ mới.
Tại đơn khởi kiện ngày 8/10/2016 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là cụ M., bà T., và chị T1 trình bày: Ngày 17/6/2014 và 24/7/2014, ông Đặng Lâm Quốc B. (là con của cụ M., chồng của bà T., cha của chị T1) lập 3 giấy yêu cầu bảo hiểm để tham gia các gói bảo hiểm của Tổng Công ty V. với người được bảo hiểm là ông B.
Cụ thể, đối với giấy yêu cầu bảo hiểm ngày 17/6/2014, giá trị bảo hiểm là 1,5 tỷ đồng, thời hạn bảo hiểm trọn đời. Người được bảo hiểm là ông Đặng Lâm Quốc B., người thụ hưởng là bà Trần Thị T. Trong đó, ông B. đã đóng phí bảo hiểm 1 năm là 30,8 triệu đồng.
Ngày 21/6/2014, Tổng Công ty V. cho ông B. kiểm tra sức khỏe tại bệnh viện. Đến ngày 25/6/2014, Tổng Công ty V. thông báo chấp nhận bảo hiểm có điều kiện, đề nghị ông B. nộp thêm 590 nghìn đồng phí bảo hiểm do tình trạng sức khỏe. Ngày 27/6/2014, Tổng Công ty V. ra thông báo chấp nhận bảo hiểm đối với ông B.
Với giấy yêu cầu bảo hiểm ngày 24/7/2014, giá trị bảo hiểm 1,5 tỷ đồng, thời hạn bảo hiểm 20 năm. Người được bảo hiểm là ông B., người thụ hưởng là cụ M. Ông B. đã đóng phí bảo hiểm 1 năm là 53,4 triệu đồng. Tổng Công ty V. có thông báo chấp nhận bảo hiểm có điều kiện và đề nghị ông B. nộp thêm 2,4 triệu đồng (tăng phí do tình trạng sức khỏe). Ngày 6/8/2014, Tổng Công ty V. chấp nhận bảo hiểm cho ông B.
Còn giấy yêu cầu bảo hiểm nhân thọ "An Phát Trọn Đời" ngày 24/7/2014, giá trị 2,5 tỷ đồng, thời hạn bảo hiểm trọn đời. Người được bảo hiểm là ông B., người thụ hưởng là chị T1. Ông B. đã đóng phí bảo hiểm 1 năm là 50,9 triệu đồng. Ngày 29/7/2014, Tổng Công ty V. thông báo chấp nhận bảo hiểm có điều kiện (tăng phí do tình trạng sức khỏe) và đề nghị ông B. nộp thêm hơn 2 triệu đồng. Ngày 6/8/2014, Tổng Công ty V. thông báo chấp nhận bảo hiểm và giao toàn bộ hợp đồng cho ông B.
Ngày 12/3/2015, ông B. chết nhưng Tổng Công ty V. không đồng ý trả tiền bảo hiểm cho những người thụ hưởng.
Nguyên đơn vì thế khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc Tổng Công ty V. trả cho phía nguyên đơn số tiền bảo hiểm cho những người thụ hưởng, cụ thể là cụ M., bà T. mỗi người 1,5 tỷ đồng, chị T1 là 2,5 tỷ đồng.
Còn bị đơn Tổng Công ty V. trình bày, trước khi tham gia bảo hiểm, ông B. bị bệnh Carcinom kém biệt hóa di căn và Carcinom thần kinh nội tiết nhưng khai báo gian dối, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin, thuộc trường hợp không được bồi thường bảo hiểm. Do đó, Tổng Công ty V. không chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Trước khi xác lập giấy bảo hiểm, người mua đã mắc bệnh
Tại Bản án dân sự sơ thẩm ngày 25/9/2017, TAND TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là cụ M., bà T., chị T1, buộc Tổng Công ty V. trả tiền bảo hiểm cho cụ M. và bà T. mỗi người 1,5 tỷ đồng, trả cho chị T1 2,5 tỷ đồng.
Tổng Công ty V. sau đó có đơn kháng cáo. Tại bản án dân sự phúc thẩm ngày 6/3/2018, TAND tỉnh Bình Dương chấp nhận kháng cáo của Tổng Công ty V. Đồng thời, sửa bản án dân sự sơ thẩm thành không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 9/8/2018, nhóm nguyên đơn có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm bản án dân sự phúc thẩm nêu trên. Kết quả giám đốc thẩm là giữ nguyên bản án dân sự phúc thẩm ngày 6/3/2018 của TAND tỉnh Bình Dương.
Án lệ cho rằng có đủ cơ sở khẳng định trước khi xác lập giấy yêu cầu bảo hiểm với Tổng Công ty V., ông B. biết rõ về tình trạng bệnh tật của mình, từng tham gia chữa trị tại nhiều bệnh viện khác nhau ở cả trong và ngoài nước với tình trạng bệnh lý ung thư, nhưng không khai báo trung thực tình trạng sức khỏe của mình.
Tại thời điểm xác lập yêu cầu bảo hiểm, ký hợp đồng bảo hiểm, ông B. đang điều trị tại bệnh viện Ung bướu TPHCM. Việc Tổng Công ty V. yêu cầu phí tăng thêm dựa trên kết quả kiểm tra sức khỏe của ông B. là đối với những bệnh lý gan nhiễm mỡ, viêm gan siêu vi B, rối loạn chuyển hóa lipid máu, không liên quan đến bệnh lý ung thư của ông B.
Như vậy, ông B. vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin về sức khỏe/bản thân, hợp đồng bảo hiểm chấm dứt hiệu lực, Tổng Công ty V. không phải chịu trách nhiệm bảo hiểm về những rủi ro đã phát sinh đối với người được bảo hiểm.
Trường hợp này, Tổng Công ty V. chỉ phải hoàn lại giá trị tài khoản hợp đồng tương ứng với phí bảo hiểm đóng thêm (nếu có) trừ đi các quyền lợi bảo hiểm đã thanh toán, các khoản rút một phần giá trị tài khoản hợp đồng, khoản nợ (nếu có).
Tuy nhiên, theo bảng minh họa về phân bổ phí và quyền lợi bảo hiểm của hợp đồng chính thì giá trị hoàn lại năm đầu tiên người mua bảo hiểm được nhận khi hợp đồng chấm dứt hiệu lực theo quy định của hợp đồng là bằng không. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng Tổng Công ty V. đã chấp nhận bảo hiểm và bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm nên buộc Tổng Công ty V. phải có trách nhiệm chi trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng là cụ M., bà T., chị T1 là không có cơ sở.
Còn Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc Tổng Công ty V. chịu trách nhiệm bảo hiểm là có cơ sở.
Đọc bài gốc tại đây.