Chất lượng đào tạo y khoa tại Việt Nam đang gióng lên hồi chuông cảnh báo khi nhiều trường mở ngành, nhưng điều kiện thực hành còn hạn chế, chất lượng đội ngũ không đồng đều, nhiều trường còn tình trạng “đánh trống ghi tên” giảng viên.
LTS: Trước những tranh luận ngày càng gay gắt về chất lượng đào tạo nhân lực y tế, đặc biệt là bác sĩ, vấn đề siết lại điều kiện mở ngành, tuyển sinh và tổ chức đào tạo y khoa đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Loạt bài “Báo động chất lượng đào tạo y khoa” sẽ đi sâu phân tích thực trạng, chỉ ra những điểm nghẽn trong cơ chế quản lí, đồng thời ghi nhận ý kiến từ các chuyên gia, cơ sở đào tạo và bệnh viện nhằm góp phần thúc đẩy những điều chỉnh cần thiết, hướng tới xây dựng một hệ thống đào tạo y khoa chuẩn mực.
Bài 1: Thiếu chuẩn đo chất lượng
Mất chuẩn
Một vị bác sĩ đang làm quản lí tại một bệnh viện tư ở Hà Nội kể lại, trong quá trình phỏng vấn tuyển dụng, ông từng rơi vào tình huống "dở khóc dở cười". Có ứng viên tốt nghiệp ngành y đến từ một trường ngoài công lập tại Thủ đô, khi được hỏi cẳng tay người có bao nhiêu xương đã không thể đưa ra câu trả lời chính xác.
Vị này cho biết, ông không quá bất ngờ. Những dấu hiệu về sự suy giảm chất lượng đào tạo y khoa đã được giới chuyên môn cảnh báo từ khoảng năm 2015-2016, khi trường ĐH ngoài công lập tham gia đào tạo lĩnh vực đặc thù này. Gần đây, một bệnh viện chuyên khoa lớn tại TPHCM tuyển dụng bác sĩ, nhưng không có ứng viên nào đáp ứng yêu cầu càng khiến những lo ngại trở nên rõ ràng hơn.
Khác với nhiều lĩnh vực, đào tạo nhóm ngành sức khỏe đòi hỏi hai trụ cột bắt buộc là lí thuyết và thực hành lâm sàng. Đây là những điều kiện tối thiểu để bảo đảm chất lượng đầu ra. Tuy nhiên, việc các cơ sở đào tạo có thực sự đáp ứng được hai tiêu chí này hay không vẫn là câu hỏi lớn. Ngay cả cơ quan quản lí là Bộ GD&ĐT và Bộ Y tế cũng chưa có công cụ kiểm soát hiệu quả để đưa ra câu trả lời đầy đủ. Trong nhiều trường hợp, chỉ khi có thanh tra, kiểm tra trực tiếp, những bất cập mới dần lộ diện.
Một ví dụ điển hình là năm 2025, Trường ĐH Kinh Bắc bị Bộ GD&ĐT ban hành tới 6 quyết định xử phạt hành chính với tổng số tiền 470 triệu đồng. Trong đó, lỗi nghiêm trọng nhất là không bảo đảm đủ giảng viên cơ hữu để tổ chức và duy trì chương trình đào tạo ở nhiều ngành, bao gồm cả lĩnh vực khoa học sức khỏe. Có tới 10 ngành trình độ ĐH và 2 ngành trình độ thạc sĩ vi phạm quy định này.
Trong bối cảnh nhiều ngành học khác gặp khó khăn về tuyển sinh, nhóm ngành y dược tại cơ sở này không chỉ thiếu giảng viên mà còn tuyển vượt chỉ tiêu. Theo kết luận của đoàn kiểm tra, năm 2024, tổng chỉ tiêu ba ngành y khoa, y học cổ truyền và dược học là 300 nhưng thực tế tuyển 328, vượt 10,9%. Thậm chí, trong đề án tuyển sinh năm 2025 (trước thời điểm bị xử phạt), nhà trường còn dự kiến tăng mạnh chỉ tiêu, riêng ngành y khoa lên tới 300 chỉ tiêu, tăng 300%. Tuy nhiên, sau đó, cơ sở này bị buộc dừng hoạt động giáo dục, bao gồm tuyển sinh và đào tạo, trong thời hạn 9 tháng.
Những con số trên phản ánh một thực tế tuyển sinh nhóm ngành y dược trong những năm gần đây diễn ra thuận lợi, nhu cầu học của thí sinh cao, tạo điều kiện để quy mô đào tạo mở rộng nhanh chóng. Tuy nhiên, sự tăng trưởng “nóng” này cũng kéo theo nhiều hệ lụy về chất lượng.
Tại nhiều diễn đàn chuyên môn, các chuyên gia cảnh báo sự chênh lệch không chỉ nằm ở quy mô mà còn thể hiện rõ ở chất lượng đầu vào. Trong khi các trường y dược tốp đầu luôn có điểm chuẩn cao, nhiều cơ sở mới chỉ lấy ở mức sàn do Bộ GD&ĐT quy định. Thậm chí, có trường tỉ lệ thí sinh trúng tuyển bằng phương thức xét học bạ chiếm phần lớn.
Một giảng viên Trường ĐH Y Hà Nội cho biết, sự khác biệt về điểm chuẩn đầu vào phản ánh trực tiếp năng lực học tập của sinh viên. Khó có thể đặt kì vọng tương đương giữa nhóm sinh viên trúng tuyển với mức điểm 20/30 và nhóm đạt 28/30. Sự chênh lệch này sẽ bộc lộ rõ trong quá trình học tập, đặc biệt là khi bước vào giai đoạn thực hành lâm sàng.
Nguy cơ bác sĩ trên “giấy”
Nếu như trước đây, đào tạo y khoa chỉ giới hạn ở một số ít cơ sở với yêu cầu đầu vào khắt khe, thì hiện nay đã trở nên phổ biến hơn, với nhiều trường tham gia và mức tuyển sinh dễ tiếp cận hơn. Số lượng trường ngoài công lập mở ngành sức khỏe tăng nhanh kéo theo số lượng sinh viên ngành y tăng theo tỉ lệ thuận.
Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là nhiều cơ sở chưa bảo đảm đủ đội ngũ giảng viên và hệ thống bệnh viện thực hành. Đây là yếu tố cốt lõi của đào tạo y khoa. Việc thiếu hụt môi trường thực hành không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo mà còn khiến sinh viên thiếu tự tin, thậm chí nản lòng với nghề.
Số liệu từ Bộ Y tế cho thấy, bức tranh phát triển quy mô đào tạo nhân lực y tế trong gần hai thập kỉ qua có sự thay đổi mạnh mẽ. Nếu như hơn 18 năm trước, cả nước chỉ có 8 trường y với khoảng hơn 3.000 sinh viên tốt nghiệp mỗi năm, thì hiện nay đã có 214 cơ sở đào tạo nhân lực y tế. Trong đó, 66 cơ sở giáo dục ĐH, 139 cơ sở giáo dục nghề nghiệp và 9 viện nghiên cứu có đào tạo tiến sĩ.
Riêng năm 2023, cả nước có hơn 11.000 bác sĩ, gần 8.500 dược sĩ và trên 18.000 điều dưỡng tốt nghiệp. Quy mô tuyển sinh năm 2024 cũng ở mức cao với 16.500 chỉ tiêu bác sĩ, 13.350 chỉ tiêu dược sĩ và 10.300 chỉ tiêu điều dưỡng trình độ ĐH.
Số lượng bác sĩ tăng gấp hơn 4 lần so với trước đây, nhưng câu hỏi đặt ra là hệ thống bệnh viện thực hành có tăng tương ứng hay không. Đây từng là băn khoăn của GS.TS Trần Diệp Tuấn, Bí thư Đảng ủy, Trường ĐH Y dược TPHCM. Ông chứng kiến có thời điểm 1 phòng bệnh của bệnh viện lớn tại TPHCM có 18 bệnh nhân nhưng có tới 82 sinh viên thực tập. Nếu chiếu theo quy định, cùng một thời điểm mỗi phòng không quá 3 sinh viên thực hành/giường bệnh thì thực tế đã vượt xa.
Không chỉ quá tải về số lượng, chất lượng hướng dẫn thực hành cũng là vấn đề đáng lo ngại. Nhiều giảng viên phản ánh, một số trường “thả nổi” sinh viên tại bệnh viện. Trong khi đó, các bác sĩ lâm sàng thường bận rộn, không có nghĩa vụ pháp lí rõ ràng trong việc giảng dạy, nên không mặn mà với việc hướng dẫn.
Hệ quả là xuất hiện tình trạng sinh viên của nhiều trường cùng “học ké” trong một buổi thực hành. Việc thiếu sự kèm cặp sát sao khiến kĩ năng lâm sàng của sinh viên không được rèn luyện đầy đủ. Theo phản ánh từ giảng viên, không hiếm trường hợp sinh viên sau 6 năm đào tạo vẫn lúng túng với những kĩ năng cơ bản như tiêm, truyền.
Trong bối cảnh nhiều trường chưa có bệnh viện thực hành riêng, việc phụ thuộc vào hệ thống bệnh viện bên ngoài khiến áp lực dồn lên một số cơ sở y tế lớn. Điều này dẫn đến tình trạng gia tăng quá tải, do một bệnh viện phải tiếp nhận sinh viên từ nhiều trường khác nhau, ở nhiều trình độ.
Bộ Y tế khẳng định, chất lượng đào tạo nhân lực ngành y tăng chưa tương ứng với sự phát triển mạnh mẽ của trình độ khoa học và công nghệ, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Điều kiện thực hành tại bệnh viện, phòng thí nghiệm, doanh nghiệp còn hạn chế ảnh hưởng tới năng lực làm việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp; chất lượng đào tạo (đầu ra) không đồng đều giữa các cơ sở đào tạo do chênh lệch về đầu tư cơ sở vật chất và trình độ giảng viên.
Theo thống kê, tại Hà Nội hiện chỉ có 2/5 trường ĐH đào tạo y khoa sở hữu bệnh viện thực hành. Các trường còn lại đều phải kí kết hợp tác với bệnh viện bên ngoài, đồng thời xây dựng đề án riêng để phát triển cơ sở thực hành trong tương lai.
Thảo luận tại Quốc hội về tình hình kinh tế - xã hội (tháng 10/2025), đại biểu Nguyễn Thị Thu Dung, Hiệu trưởng Cao đẳng Y tế Thái Bình (đoàn Hưng Yên) cho rằng, số lượng cơ sở đào tạo nhân lực y tế tăng nhanh, đặc biệt ở khối ngoài công lập. Đáng chú ý, số cơ sở có bệnh viện thực hành trực thuộc còn ít, khiến việc tổ chức thực tập cho sinh viên gặp nhiều khó khăn.
Thực trạng này cho thấy một nghịch lí: quy mô đào tạo tăng nhanh nhưng điều kiện bảo đảm chất lượng chưa theo kịp. Nếu không có giải pháp kiểm soát hiệu quả, nguy cơ suy giảm chất lượng nguồn nhân lực y tế là điều có thể nhìn thấy trước.
Đọc bài gốc tại đây.