Lớp ‘Bình dân học vụ số’ trong nhà rông Ba Na

22/06 06:59
 

Tổ công nghệ áo xanh và hành trình xóa mù số từ đại ngàn xuống biển ghi lại nỗ lực của đoàn viên thanh niên tỉnh Gia Lai trong phong trào “Bình dân học vụ số”. Khi màn đêm phủ xuống xã Vĩnh Sơn (tỉnh Gia Lai), nhà rông làng K3 vẫn sáng đèn. Không bảng đen, không phấn trắng, không bục giảng. Học viên là những già làng, phụ nữ Ba Na quanh năm quen nương rẫy. Người hướng dẫn là các đoàn viên thanh niên địa phương trong sắc áo xanh tình nguyện. Dưới...

 

Tổ công nghệ áo xanh và hành trình xóa mù số từ đại ngàn xuống biển ghi lại nỗ lực của đoàn viên thanh niên tỉnh Gia Lai trong phong trào “Bình dân học vụ số”.

 

Khi màn đêm phủ xuống xã Vĩnh Sơn (tỉnh Gia Lai), nhà rông làng K3 vẫn sáng đèn. Không bảng đen, không phấn trắng, không bục giảng. Học viên là những già làng, phụ nữ Ba Na quanh năm quen nương rẫy. Người hướng dẫn là các đoàn viên thanh niên địa phương trong sắc áo xanh tình nguyện.

Dưới mái nhà rông, hơn hai chục người dân ngồi quây thành vòng tròn. Trước mặt họ là vài chiếc điện thoại thông minh, một máy chiếu và Đinh Thị Thu Ngân - cô đoàn viên được bà con gọi vui là “cô giáo làng không bục giảng”.

 

Ngồi cạnh Thu Ngân là già làng Đinh Tiết, 62 tuổi. Chiếc điện thoại thông minh do con cháu mua tặng bấy lâu nay với già chủ yếu chỉ để nghe - gọi. Già sợ bấm nhầm, sợ làm hỏng máy, sợ những biểu tượng trên màn hình không dành cho người đã quen cả đời với rẫy, bắp và bếp lửa.

Thu Ngân chậm rãi cầm tay già, hướng dẫn ngón tay lướt từ dưới lên. Những biểu tượng ứng dụng hiện ra. Già Kon Bla nhìn chăm chú rồi bật cười. Khoảnh khắc ấy nhỏ thôi, nhưng với lớp học trong nhà rông, đó là một cánh cửa vừa mở.

Ồ, cái chữ, cái hình nó hiện lên rồi! Hay quá này!”, già Đinh Tiết nói. Từ một cú chạm còn lóng ngóng, câu chuyện “xóa mù số” hiện ra rất cụ thể. Ở đây, khoảng cách số không phải khái niệm trong báo cáo.

Nó nằm trong nỗi ngại của người già trước chiếc điện thoại, trong rào cản ngôn ngữ khi những từ như “đăng nhập”, “mật khẩu”, “quét mã QR” không có sẵn trong đời sống quen thuộc của bà con.

Có hôm mưa rừng đổ xuống, Thu Ngân nghĩ lớp học sẽ vắng. Nhưng khi cô ôm máy chiếu đến nhà rông, sàn tre đã gần kín người. Người đi rẫy còn ướt áo, cụ già chống gậy, bà mẹ trẻ địu con trên lưng vẫn đến học cách mở ứng dụng, quét mã, tra cứu thông tin. Chi tiết ấy cho thấy nhu cầu tiếp cận công nghệ ở vùng cao không hề nhỏ; điều thiếu nhiều khi chỉ là một người đủ gần, đủ kiên nhẫn để hướng dẫn.

 
 

Để đưa công nghệ vào làng, trở ngại lớn nhất với Thu Ngân và các thành viên Tổ công nghệ số cộng đồng không chỉ là đường xa hay thiếu thiết bị. Khó nhất là làm sao để bà con tin rằng chiếc điện thoại thông minh có thể giúp họ bớt thiệt thòi trong đời sống mới.

Ngày đầu vận động, không ít người từ chối. Có người bảo người Ba Na chỉ cần cái cuốc, cái rẫy để làm ra hạt bắp, hạt lúa; điện thoại thông minh phức tạp quá, không làm no được cái bụng. Một số già làng còn lo điện thoại khiến con cháu mê màn hình, lười lên rẫy.

Thu Ngân hiểu, nếu chỉ bê nguyên các khái niệm kỹ thuật từ thành phố về buôn làng, lớp học sẽ thất bại. Công nghệ muốn được tiếp nhận phải đi qua ngôn ngữ, phong tục và cách nghĩ của người bản địa. Vì vậy, thay vì giảng giải bằng thuật ngữ, cô tìm cách “dịch” công nghệ thành những hình ảnh bà con có thể hiểu ngay.

 

Khi nói về mật khẩu, Thu Ngân không bắt đầu bằng định nghĩa bảo mật. Cô nói: “Mật khẩu giống như cái chốt cửa của nhà sàn. Mình đi rẫy phải gài chốt để người lạ không vào lấy gà, lấy ché rượu cần. Điện thoại cũng cần cái chốt bằng số để bảo vệ tiền bạc và thông tin của mình”.

Với Google, cô ví đó như “một già làng thông thái ngồi trong máy”, có thể giúp người dân tìm cách chăm cây, hỏi giá nông sản, tra cứu thông tin cần thiết. Cách nói ấy không biến công nghệ thành điều huyền bí, mà kéo nó về gần với bếp lửa, nhà sàn, nương rẫy và những nhu cầu rất đời thường.

Chính phương pháp “bản địa hóa công nghệ” này làm nên điểm khác biệt của lớp học. Người già không bị đặt vào tâm thế phải học một thứ xa lạ. Họ được dẫn vào thế giới số bằng những hình ảnh quen thuộc. Người trẻ không chỉ là người biết dùng thiết bị, mà trở thành chiếc cầu nối giữa hai hệ ngôn ngữ: ngôn ngữ của công nghệ và ngôn ngữ của buôn làng.

Từ chỗ phải đi từng nhà vận động, lớp học ở nhà rông làng K3 dần đông hơn. Theo lịch hiện nay, vào tối thứ Ba và thứ Bảy hằng tuần, khi tiếng kẻng nhà rông vang lên, nhiều người dân tự mang điện thoại đến lớp. Người học cách gọi video cho con cháu đi làm ăn xa; người tập quét mã định danh; người hỏi cách tìm thông tin giá nông sản để tránh bị ép giá.

 

Nhìn từ lớp học trong nhà rông, có thể thấy “Bình dân học vụ số” ở vùng dân tộc thiểu số không thể triển khai bằng những mệnh lệnh rập khuôn. Người hướng dẫn phải hiểu tập quán, nói được tiếng nói của bà con và đủ kiên nhẫn để lặp lại một thao tác nhiều lần.

 

Một lãnh đạo xã nhận xét, thanh niên địa phương là lực lượng phù hợp nhất để làm “sứ giả số”, bởi họ vừa hiểu công nghệ, vừa hiểu tâm lý, phong tục của chính cộng đồng mình. Với người già trong làng, sự tin cậy không đến từ một bài giảng dài, mà từ việc người hướng dẫn là con cháu trong buôn, nói cùng thứ tiếng, hiểu cùng nếp sống.

Quy mô của phong trào không chỉ nằm trong lớp học nhỏ ở nhà rông làng K3. Từ những buổi hướng dẫn như thế, lực lượng đoàn viên Gia Lai đang mở rộng hành trình “xóa mù số” đến nhiều địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.

Tuy nhiên, thước đo bền vững không chỉ nằm ở số buổi hướng dẫn hay số lượt cài đặt ứng dụng. Điều quan trọng hơn là người dân có dùng được công nghệ trong đời sống hằng ngày hay không: bớt phải đi xa khi làm thủ tục, biết tự bảo vệ thông tin cá nhân, biết tìm thông tin phục vụ sinh kế.

 

Đêm ở Vĩnh Sơn lạnh dần. Lớp học trong nhà rông kết thúc, người dân lần lượt ra về, ánh điện thoại nhấp nháy theo những lối nhỏ dẫn về từng căn nhà sàn. Thu Ngân thu dọn máy chiếu, kiểm tra lại vài chiếc điện thoại bà con gửi hỏi lỗi, rồi hẹn buổi sau sẽ chỉ tiếp cách đặt mật khẩu và dùng dịch vụ công trực tuyến.

Ở Vĩnh Sơn, “xóa mù số” không bắt đầu bằng những khẩu hiệu lớn. Nó bắt đầu từ một người trẻ ngồi bên một người già, chỉ từng thao tác nhỏ trên màn hình. Khi già Kon Bla biết mở máy, khi một người mẹ biết quét mã, khi một thanh niên biết tra cứu giá nông sản, công nghệ không còn là thứ xa lạ ngoài kia. Nó đã bước vào nhà rông, vào nương rẫy, vào đời sống của người Ba Na - bằng chính bàn tay của những đoàn viên áo xanh.

Đọc bài gốc tại đây.