Đại diện trường đại học và doanh nghiệp cho rằng, người Việt có thể làm chủ công nghệ phức tạp, tuy nhiên cần có cơ chế đủ mở cùng với đầu tư hạ tầng bài bản để thúc đẩy.
Trong phần tham luận tại Hội nghị toàn quốc sơ kết một năm sáu tháng triển khai Nghị quyết 57 về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, chiều 1/7 ở Hà Nội, nhiều đề xuất được đại diện các đại học, doanh nghiệp đưa ra nhằm thúc đẩy việc làm chủ công nghệ, thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu.
GS. TS Lê Anh Tuấn, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội, cho biết đơn vị đang tái cơ cấu nhằm xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoàn chỉnh ngay trong lòng đại học. Mục tiêu đưa công nghệ đi từ phòng thí nghiệm ra thị trường một cách nhanh nhất có thể.
Theo đó, hệ sinh thái được xây dựng trên ba tầng cơ bản. Tầng nền tảng tạo ra tri thức và công nghệ nguồn, gồm viện nghiên cứu trung tâm và phòng thí nghiệm trọng điểm, tập trung ưu tiên chiến lược như AI, an toàn không gian mạng, chip bán dẫn, IoT, năng lượng tái tạo, cơ điện tử, robot, vật liệu tiên tiến và kỹ thuật sinh học.
Tầng trung gian là mô hình hợp tác giữa đại học và doanh nghiệp thông qua phòng thí nghiệm hỗn hợp, trung tâm chế thử. Đây là nơi nhà nghiên cứu và kỹ sư chuyên gia của các doanh nghiệp cùng làm việc, chia sẻ trang thiết bị và cùng giải quyết bài toán thực tế.
Tầng thứ ba liên quan đến thương mại hóa và đầu tư. Có hai thiết chế quan trọng đã được hình thành và triển khai tại Đại học Bách khoa Hà Nội, gồm BK Holdings theo mô hình holding - công ty mẹ đóng vai trò quản lý tài sản, không trực tiếp sản xuất kinh doanh; và BK Fund tập trung đầu tư vào các startup công nghệ giai đoạn sớm từ hệ sinh thái của nhà trường.
Theo ông Tuấn, trung tâm đổi mới sáng tạo liên ngành là hiện thân của mô hình hợp tác ba nhà, gồm nhà trường, doanh nghiệp và nhà nước. Tuy nhiên, để kết nối toàn bộ thành tố của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thành một chỉnh thể thống nhất, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội kiến nghị Nhà nước cần sớm hiện thực hóa việc đầu tư phòng thí nghiệm trung tâm nghiên cứu hiện đại theo mô hình kết nối ba nhà, cùng với cơ chế học bổng khuyến khích người học tài năng, cơ chế đãi ngộ thu hút giảng viên, nhà khoa học xuất sắc.
Ông cũng mong sớm ban hành hướng dẫn chi tiết về định giá tài sản trí tuệ và thủ tục thành lập doanh nghiệp khởi nguồn từ cơ sở giáo dục đại học. Theo ông, khá nhiều sản phẩm nghiên cứu có công nghệ tốt, có đối tác doanh nghiệp muốn đầu tư nhưng chưa thể triển khai vì thiếu hành lang pháp lý rõ ràng, chấp nhận rủi ro trong tự chủ định giá và thỏa thuận phân chia lợi ích.
Ở góc độ tài chính, GS Tuấn kiến nghị rút ngắn thủ tục phê duyệt và tăng tốc vận hành thực chất quỹ phát triển khoa học công nghệ, quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và các thành phố lớn. Cùng với đó là thúc đẩy nhanh việc thành lập và vận hành quỹ phát triển khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo tại cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu với nguồn tài chính đa dạng, có đối ứng từ ngân sách nhà nước làm cơ sở cho định hướng đầu tư cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
Coi AI, dữ liệu lớn là hạ tầng nền
Ông Lưu Anh Tuấn, Giám đốc trung tâm nghiên cứu trí tuệ nhân tạo của VinUniversity, đánh giá Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị đã xác định khoa học công nghệ đổi mới, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược, là động lực chủ yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Từ thực tiễn và góc nhìn của Vingroup, ông cho rằng vấn đề cốt lõi để Việt Nam đột phá công nghiệp chiến lược là phải coi AI và dữ liệu lớn như hạ tầng nền của nền kinh tế.
Theo ông Lưu Anh Tuấn, người Việt có thể làm chủ công nghệ phức tạp nếu có mục tiêu lớn cách tổ chức đúng và có cơ chế đủ mở. Dựa trên điều này, ông đề xuất 6 đột phá chiến lược nhằm phát huy hiệu quả tích hợp AI và dữ liệu lớn để thúc đẩy phát triển các công nghiệp chiến lược của đất nước.
Thứ nhất, xây dựng hạ tầng dữ liệu AI quốc gia. Dữ liệu cần được coi là tài nguyên chiến lược quốc gia, nhưng hiện còn phân tán giữa bộ ngành, địa phương và doanh nghiệp, thiếu tiêu chuẩn thống nhất và cơ chế chia sẻ an toàn. Do đó, cần xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa nhà nước, doanh nghiệp và viện trường, đồng thời phát triển các kho dữ liệu mở, hình thành các kho dữ liệu cho những lĩnh vực quan trọng, qua đó "lấy làm nền tảng phát triển các mô hình AI mang bản sắc và lợi thế của Việt Nam".
Thứ hai là đầu tư phát triển các mô hình AI nền tảng "made in Việt Nam". Hiện nay, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam vẫn phụ thuộc vào mô hình AI nước ngoài với chi phí lớn, phụ thuộc công nghệ và rủi ro về dữ liệu. Việc tự xây dựng AI nền tảng như mô hình ngôn ngữ lớn, mô hình đa phương thức, mô hình AI cho robot, sản xuất thông minh và lĩnh vực chiến lược là hướng đi đúng đắn.
Thứ ba là phát triển hạ tầng tính toán AI quốc gia. Bên cạnh dữ liệu và mô hình năng lực tính toán là điều kiện tiên quyết để phát triển AI. Do chi phí đầu tư rất lớn, việc xây dựng năng lực tính toán cần có sự chung tay của chính phủ. Đại diện Vingroup đề xuất xây theo mô hình dùng chung, cho phép các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp tiếp cận nguồn với chi phí hợp lý, xem đây là chiến lược quốc gia tương tự hạ tầng điện hay viễn thông.
Thứ tư là đổi mới thể chế để thúc đẩy đổi mới sáng tạo - một trong những rào cản lớn nhất hiện nay. Vingroup kiến nghị sớm ban hành khu pháp lý theo hướng xây dựng dạng sandbox cho công nghệ mới hoàn thiện quy định về dữ liệu, dựng tiêu chuẩn đánh giá đáng tin cậy, đồng thời áp dụng cơ chế đầu tư và nhiệm thu linh hoạt đối với các chương trình AI phù hợp đặc thù đổi mới sáng tạo.
Thứ năm là phát triển nguồn nhân lực AI. Theo ông Tuấn, cạnh tranh AI thực chất là cuộc cạnh tranh về nhân lực chất lượng cao, do đó cần xây dựng chiến lược quốc gia, gồm đào tạo đội ngũ chuyên gia trình độ cao, thu hút nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài hay chuyên gia quốc tế đến khởi nghiệp, nghiên cứu.
Cuối cùng là thúc đẩy thương mại hóa và đưa AI ra toàn cầu. Để AI thực sự trở thành động lực tăng trưởng, cần hình thành các doanh nghiệp AI có nguyên mô khu vực và quốc tế. Do đó, cần hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản phẩm đạt chuẩn quốc tế, bảo hộ sở hữu trí tuệ, kết nối quỹ đầu tư và mở rộng thị trường toàn cầu. Đồng thời, cần coi khu vực công là khách hàng đầu tiên đối với sản phẩm AI "made in Việt Nam" trước khi ra quốc tế.
Trước đó, vấn đề tự chủ công nghệ của Việt Nam đã nhận nhiều ý kiến xây dựng. Phát biểu tại sự kiện GStar 2026 diễn ra tại TP HCM ngày 29/5, Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương nhấn mạnh, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 sẽ trở thành nhóm ba nước dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo.
Theo Thứ trưởng, để thúc đẩy, Việt Nam sẽ từng bước nghiên cứu, phát triển, làm chủ những công nghệ lõi, tự chủ các mô hình đa dụng, mô hình nền tảng dựa trên dữ liệu trong nước, không để phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ nước ngoài.
"Hoạt động nghiên cứu phát triển AI đòi hỏi nhu cầu rất lớn về nhân lực chất lượng cao, hạ tầng tính toán và các hệ thống dữ liệu lớn", Thứ trưởng nói. "Nếu không có sự quan tâm và đầu tư đúng mức cùng những hạ tầng đủ mạnh, cơ sở dữ liệu đủ lớn, nhân lực đủ năng lực và trình độ, việc nghiên cứu và phát triển AI vẫn là một bài toán rất khó".
Bảo Lâm - Trọng Đạt
- 'Việt Nam hướng mục tiêu cao nhất là tự chủ về AI'
- Việt Nam - Lào sẽ công nhận chéo chữ ký số
- Tổng Bí thư: Phát triển công nghệ là căn cơ để xây dựng nền kinh tế tự chủ
Đọc bài gốc tại đây.