Diễn ra tại Việt Nam từ ngày 27/9 - 1/10, Hội nghị Đối thoại châu Á - Thái Bình Dương về Di sản và Tính xác thực đã mở rộng không gian trao đổi về những cách tiếp cận mới trong bảo tồn di sản. Việc thông qua Văn kiện Hà Nội về Di sản và Tính xác thực ghi dấu đóng góp của khu vực vào đối thoại quốc tế, đồng thời gợi mở những hướng hợp tác mới nhằm bảo đảm tính đa dạng, bền vững và sức sống của di sản.
| Các đại biểu tham dự Phiên khai mạc Đối thoại châu Á - Thái Bình Dương về Di sản và Tính xác thực tại Hà Nội, ngày 28/9 tại Hà Nội. (Ảnh: Quang Hòa) |
Đăng cai trong năm kỷ niệm 50 năm quan hệ Việt Nam - UNESCO, ngay sau khi sáng kiến về “Thập kỷ quốc tế Văn hóa vì Phát triển bền vững” 2027-2036 được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua, Hội nghị đã tạo điều kiện để Việt Nam chia sẻ kinh nghiệm và đóng góp sâu hơn vào quá trình định hình những cách tiếp cận mới về di sản.
Hơn ba thập niên sau Văn kiện Nara về Tính xác thực năm 1994, thực tiễn bảo tồn di sản thế giới đã có nhiều thay đổi. Biến đổi khí hậu, thiên tai, xung đột, đô thị hóa, phát triển hạ tầng, du lịch đại chúng và công nghệ mới đang làm xuất hiện những câu hỏi mà các cách tiếp cận trước đây chưa thể trả lời đầy đủ.
Tính xác thực trong một thế giới đang thay đổi
UNESCO xác định chính những thay đổi đó là lý do cần tiếp tục trao đổi về cách hiểu, đánh giá và bảo vệ tính xác thực trong những trường hợp di sản vẫn tồn tại, biến đổi nhưng đồng thời phải giữ được những giá trị cốt lõi.
Phát biểu khai mạc Hội nghị, Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung nhấn mạnh tầm quan trọng của di sản bằng một hình ảnh giàu sức gợi: “Di sản là ký ức của nhân loại, là sợi dây nối quá khứ với hôm nay và ngày mai”. Bởi vậy, giữ gìn tính xác thực trước hết là tôn trọng sự thật lịch sử và những giá trị đã được các thế hệ gìn giữ, tiếp nối.
Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nơi tập trung nhiều nền văn minh lâu đời, đồng thời cũng là một trong những khu vực phát triển năng động của thế giới. Di sản đang đứng trước những sức ép ngày càng lớn từ đô thị hóa, phát triển hạ tầng và biến đổi khí hậu.
Ông Jonathan Wallace Baker, Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam cho rằng, Hội nghị góp phần đưa những kinh nghiệm của châu Á - Thái Bình Dương về di sản sống, tính liên tục, phục dựng, tri thức truyền thống và mối quan hệ giữa cộng đồng với di sản đến với các thảo luận rộng hơn. Theo ông, từ những kinh nghiệm đó có thể hình thành các cách tiếp cận rõ ràng hơn, dựa trên bằng chứng và có khả năng áp dụng trong toàn bộ hệ thống Di sản thế giới.
Quan điểm này đặt tính xác thực vào một phạm vi rộng hơn việc xác định một di sản còn giữ được bao nhiêu yếu tố nguyên gốc. Di sản có thể biến đổi theo thời gian, có thể trải qua phục hồi, tái thiết hoặc thích ứng với điều kiện mới, nhưng vấn đề cốt lõi là quá trình đó phải được nhận diện, đánh giá trên cơ sở những giá trị làm nên ý nghĩa của di sản.
| Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đại biểu thực hiện nghi thức khởi công Dự án đầu tư bảo quản, tu bổ, phục hồi Điện Kính Thiên, ngày 29/9. (Ảnh: Trần Huấn) |
“Bảo tồn để phát triển, phát triển để bảo tồn tốt hơn”
Có thể thấy, Hội nghị Đối thoại châu Á - Thái Bình Dương về Di sản và Tính xác thực tại Việt Nam đã tiếp nối các trao đổi được thúc đẩy tại sự kiện ở Nairobi năm 2025.
Bộ trưởng Lê Hoài Trung nhấn mạnh, Việt Nam xác định văn hóa là nền tảng tinh thần, mục tiêu và động lực của phát triển bền vững; chủ trương “bảo tồn để phát triển, phát triển để bảo tồn tốt hơn”, không đánh đổi bản sắc và di sản để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Đầu tư cho văn hóa, theo cách tiếp cận này, cũng là đầu tư cho con người và tương lai. Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy Hoàng thành Thăng Long, Tràng An, Hội An, Huế, Hạ Long, Yên Tử và nhiều di sản khác đang đặt ra những bài toán khác nhau về bảo tồn, quản lý, khai thác giá trị, sinh kế cộng đồng và phát triển du lịch.
Giám đốc Trung tâm Di sản thế giới của UNESCO Lazare Eloundou Assomo đánh giá, Việt Nam là một thành viên tích cực, có trách nhiệm của UNESCO và là một điển hình tham khảo về bảo tồn, phát huy giá trị di sản gắn với phát triển kinh tế - xã hội và sinh kế của người dân.
Đáng chú ý, Hội nghị được tổ chức đúng thời điểm Hà Nội triển khai những bước quan trọng trong bảo tồn và phát huy giá trị Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long, trong đó có Dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi Điện Kính Thiên
| “Việt Nam xác định văn hóa là nền tảng tinh thần, mục tiêu và động lực của phát triển bền vững; chủ trương ‘bảo tồn để phát triển, phát triển để bảo tồn tốt hơn’, không đánh đổi bản sắc và di sản để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần”. Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung |
Việc đưa các chuyên gia quốc tế tới chính không gian di sản này giúp những tranh luận về tính xác thực được kiểm chứng bằng thực tiễn, đồng thời cho thấy một yêu cầu ngày càng rõ: Mọi quyết định can thiệp vào di sản phải có cơ sở khoa học, tôn trọng các lớp giá trị lịch sử và đặt trong tổng thể quản lý lâu dài.
Câu chuyện Điện Kính Thiên truyền cảm hứng về cách một thành phố hiện đại đối thoại với những lớp ký ức lịch sử của mình. Tính xác thực, trong trường hợp này, trở thành nguyên tắc để giới hạn những can thiệp tùy tiện, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi khoa học, tư liệu và trách nhiệm giải trình để có thể đưa ra những quyết định phù hợp.
Văn kiện Hà Nội hướng đến chương hợp tác mới
Thành công nổi bật của Hội nghị lần này chính là việc thông qua Văn kiện Hà Nội và những vấn đề đặt ra từ thực tiễn khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Các đại biểu khẳng định Văn kiện Hà Nội là bước tiếp nối trong tư duy quốc tế về bảo tồn, từ Hiến chương Venice năm 1964, Văn kiện Nara về Tính xác thực năm 1994 đến Văn kiện Nairobi năm 2025. Giá trị của văn kiện không nằm ở việc đưa ra một khuôn mẫu chung, mà ở việc gợi mở cách tiếp cận tính xác thực trong mối quan hệ với lịch sử, văn hóa, xã hội và sự vận động của từng cộng đồng.
Tổng hợp toàn bộ kinh nghiệm, góc nhìn của các chuyên gia, nhà quản lý di sản hàng đầu tại châu Á - Thái Bình Dương, Văn kiện Hà Nội đóng góp vào nỗ lực xây dựng Danh sách Di sản thế giới có tính đại diện, cân bằng và đáng tin cậy hơn nữa; trong đó, nhấn mạnh di sản của khu vực vô cùng sống động và phong phú và sự thay đổi, thích ứng không làm mất đi tính xác thực mà có thể là phương thức để duy trì tính xác thực, giúp di sản tiếp tục tồn tại và được trao truyền qua nhiều thế hệ. Tài liệu này cũng khẳng định người dân, nghệ nhân, cộng đồng địa phương chính là chủ thể nắm giữ tri thức, phải được tham gia trực tiếp vào quá trình nhận diện, đánh giá và bảo vệ tính xác thực của di sản.
Đáng chú ý, Văn kiện đã đưa ra đề xuất ở các cấp độ cụ thể trong cơ chế phối hợp thực hiện Công ước Di sản thế giới 1972, dành cho các quốc gia thành viên, Uỷ ban Di sản thế giới, các cơ quan tư vấn chuyên môn (Hội đồng quốc tế về Di tích và Địa điểm ICOMOS, Trung tâm quốc tế Nghiên cứu và Bảo tồn và Phục hồi Di sản Văn hóa ICCROM, Liên minh Bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN) và Trung tâm Di sản thế giới UNESCO.
Phát biểu kết luận Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Phó Chủ tịch Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam Hoàng Đạo Cương nhấn mạnh tính xác thực cần được nhận diện trong bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội cụ thể; xem xét mối liên hệ giữa các yếu tố vật thể và phi vật thể. Theo đó, Việt Nam đề xuất phối hợp cùng UNESCO và các quốc gia thành viên theo ba hướng: Duy trì đối thoại trước những thách thức mới; tăng cường chia sẻ kinh nghiệm, nghiên cứu so sánh, đào tạo và chuyển kết quả nghiên cứu thành chính sách, công cụ bảo vệ di sản phù hợp Công ước Di sản thế giới năm 1972.
| Hội nghị quy tụ khoảng 250 đại biểu trong nước và quốc tế. (Ảnh: Quang Hòa) |
Khẳng định Việt Nam là “điểm đến đặc biệt có ý nghĩa” của Hội nghị đối thoại lần này và mượn câu tục ngữ giàu bản sắc của Việt Nam “Uống nước nhớ nguồn”, Giám đốc Trung tâm Di sản thế giới Lazare Eloundou khẳng định cộng đồng quốc tế ghi nhận đóng góp mang tính dấu mốc của Việt Nam cho tương lai của Công ước Di sản thế giới.
Ông Lazare Eloundou gửi lời cảm ơn chân thành tới Lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam, tới sự đón tiếp nồng hậu, tinh thần trách nhiệm cao và sự phối hợp hiệu quả của Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam, UBND thành phố Hà Nội, tỉnh Ninh Bình cùng các ban, ngành, đối tác liên quan.
Từ Văn kiện Hà Nội về Di sản và Tính xác thực, vấn đề đặt ra tiếp theo là chuyển những nhận thức chung thành chương trình nghiên cứu, đào tạo, chính sách và công cụ thực tiễn.
Khi kết quả Hội nghị được tiếp tục thúc đẩy tại UNESCO và Khóa họp thứ 49 của Ủy ban Di sản thế giới tại Istanbul năm 2027, giá trị của văn kiện sẽ được thể hiện ở khả năng tạo thêm không gian đối thoại. Đó là bước chuyển từ kết quả Hội nghị thành đóng góp lâu dài cho tư duy bảo vệ di sản.
Đọc bài gốc tại đây.