Trước những giới hạn của mô hình đào tạo khép kín, việc phá vỡ ranh giới đơn ngành và gắn kết chặt chẽ nhà trường-doanh nghiệp là chìa khóa để gỡ "nút thắt" trong phát triển nguồn nhân lực sáng tạo.
Khi công nghiệp văn hóa vận hành trên sự giao thoa giữa nghệ thuật, công nghệ và kinh tế, mô hình đào tạo khép kín trong từng chuyên ngành đang bộc lộ những giới hạn.
Gỡ “nút thắt” này cần thay đổi cách tổ chức đào tạo: tăng khả năng làm việc liên ngành và đưa người học đến gần môi trường nghề nghiệp ngay trong quá trình học. Những thử nghiệm thực tế đang gợi mở cách rút ngắn khoảng cách giữa học nghề và làm nghề.
Phá ranh giới đơn ngành
Công diễn lần đầu vào cuối tháng 8/2026 tại Nhà hát Kịch sân khấu nhỏ 5B, vở kịch “Tiếng hát nửa đêm” bắt đầu từ kịch bản mà đạo diễn trẻ Nguyễn Hoàng Phúc làm báo cáo tốt nghiệp. Khi được Nghệ sỹ Nhân dân Mỹ Uyên “đặt hàng”, nam đạo diễn nhận ra yêu cầu đối với tác phẩm đã khác. “Tính chất một vở diễn tốt nghiệp khác xa so với một tác phẩm biểu diễn bán vé. Nó không chỉ phải đáp ứng các tiêu chí về chuyên môn, mà còn phải đủ sức hấp dẫn, thu hút công chúng. Ngoài ra, còn phải tính đến thông điệp dành cho khán giả đại chúng, hiệu quả giải trí và đặc trưng của không gian biểu diễn nữa”, Nguyễn Hoàng Phúc chia sẻ.
Nhưng có lẽ với Nguyễn Hoàng Phúc, trải nghiệm đáng giá hơn lại nằm ở cách làm việc trong một êkíp chuyên nghiệp. Nam đạo diễn chia sẻ, người trẻ thường có nhiều ý tưởng và mong muốn đưa thật nhiều sáng tạo vào tác phẩm. Nhưng khi bắt tay làm nghề, đạo diễn phải tiết chế, lắng nghe diễn viên và nghệ sỹ giàu kinh nghiệm, nghiên cứu kỹ hơn về nhân vật để điều chỉnh ý tưởng theo hiệu quả chung của vở diễn.
Từ phía đơn vị nghệ thuật, Nghệ sỹ Nhân dân Mỹ Uyên, Giám đốc Nhà hát Kịch sân khấu nhỏ 5B cho rằng, khoảng chuyển tiếp sau khi rời trường là giai đoạn không dễ dàng đối với nhiều nghệ sỹ, đạo diễn hay biên kịch trẻ. Đó cũng là lý do Nhà hát luôn dành cơ hội cho những đạo diễn, diễn viên mới tốt nghiệp tham gia các dự án biểu diễn thực tế. Điều người trẻ cần không chỉ là một nơi để giới thiệu tác phẩm mà còn là môi trường để tiếp tục học nghề bằng chính quá trình làm nghề, phải tạo cho các bạn một sân chơi, để các bạn được biểu diễn. Khi được đứng trên sân khấu, các bạn cảm nhận được niềm hạnh phúc vì thực sự được làm nghề. Đó cũng là môi trường để các bạn tiếp tục học hỏi, tích lũy kinh nghiệm và trưởng thành với nghề.
Trường hợp “Tiếng hát nửa đêm” cho thấy khi một sản phẩm bước ra khỏi môi trường đào tạo, người trẻ không chỉ vận dụng chuyên môn mà còn phải làm việc với nhiều vị trí khác trong một quy trình chung. Đây cũng là một yêu cầu ngày càng rõ của công nghiệp văn hóa: chuyên môn sâu vẫn cần thiết, nhưng khả năng phối hợp giữa các lĩnh vực quyết định việc một ý tưởng có thể trở thành sản phẩm hoàn chỉnh hay không.
Tiến sỹ Nguyễn Thị Thu Thủy, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, phân tích sự chuyển dịch từ cách tiếp cận giáo dục nghệ thuật theo những bộ môn chuyên biệt sang một hệ sinh thái học tập tích hợp, diễn ra trong nhiều không gian và kéo dài suốt đời. Theo cách tiếp cận này, quá trình học không chỉ giới hạn trong lớp học mà có thể mở rộng tới các thiết chế văn hóa, cộng đồng, môi trường số và thực tiễn nghề nghiệp.
Trong cách tổ chức đó, liên ngành không có nghĩa một người phải biết và làm tất cả. Sinh viên điện ảnh có thể phối hợp với người học thiết kế, công nghệ hoặc truyền thông; người học bảo tàng có thể làm việc cùng người làm du lịch, giáo dục. Một dự án văn hóa có thể quy tụ người sáng tạo, nhà quản lý và người am hiểu thị trường. Điều quan trọng là mỗi người vừa có chuyên môn vững, vừa hiểu vị trí trong một quy trình chung và có khả năng cộng tác.
Học theo dự án là một cách đưa yêu cầu này vào thực tế đào tạo. Thay vì chỉ hoàn thành các bài tập riêng lẻ, người học cùng giải quyết một vấn đề cụ thể, tham gia vào quá trình hình thành sản phẩm và đối diện với những yêu cầu gần với môi trường nghề nghiệp. Như vậy, “phá ranh giới đơn ngành” không phải xóa nhòa chuyên môn mà thay đổi cách các chuyên môn gặp nhau trong quá trình học. Vấn đề không chỉ là đào tạo ngành gì, mà quan trọng hơn là người học được học như thế nào, có cơ hội tham gia những dự án chung hay không và có hiểu vai trò của mình trong một quy trình sáng tạo rộng hơn hay không.
Đưa doanh nghiệp vào giảng đường
Nếu đào tạo liên ngành nhằm phá bỏ những “đường biên” bên trong nhà trường, một khoảng cách khác cần được thu hẹp là giữa cơ sở đào tạo và thị trường lao động. Thực tế cho thấy kiến thức chuyên môn là điều kiện cần, nhưng để bước vào môi trường nghề nghiệp, người học còn phải biết xử lý tình huống, phối hợp trong êkíp và thích ứng với những yêu cầu phát sinh trong quá trình sản xuất.
Từ góc nhìn doanh nghiệp sáng tạo, ông Huỳnh Minh Hòa, Founder & CEO Công ty Vietmission cho rằng, sinh viên mới tốt nghiệp thường thiếu là kỹ năng thực chiến. Các trường đã cung cấp kiến thức và nền tảng lý thuyết, nhưng người học chưa có nhiều cơ hội xử lý những vấn đề thực tế tại hiện trường, từ xử lý tình huống, ra quyết định đến thay đổi phương án khi điều kiện sản xuất không diễn ra như dự kiến.
Để “lấp đầy” khoảng trống này, hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp cần đi xa hơn những chuyến tham quan, kỳ thực tập ngắn hạn hay các buổi chia sẻ kinh nghiệm. Sinh viên có thể tham gia dự án thực tế tại doanh nghiệp ngay trong quá trình học, qua đó kiểm nghiệm kiến thức trên giảng đường và hiểu rõ hơn cách một sản phẩm được hình thành trong môi trường nghề nghiệp. Các bạn sẽ có cơ hội đến tại cơ sở thực tập để làm việc thực tế với một dự án nào đó trong lúc các bạn đang học những môn lý thuyết tại trường.
Ở chiều ngược lại, những người đang trực tiếp làm nghề cũng có thể tham gia hoạt động đào tạo, chia sẻ tình huống thực tế và những thay đổi của thị trường với sinh viên. Tăng thực hành không đồng nghĩa xem nhẹ nền tảng học thuật. Người làm sáng tạo vẫn cần hiểu lịch sử, truyền thống và văn hóa bởi đó là nguồn chất liệu tạo nên chiều sâu cho tác phẩm. Do vậy, lý thuyết và thực hành không phải hai lựa chọn đối lập, mà cần được kết nối trong suốt quá trình đào tạo.
Tiến sỹ Trần Văn Thành, Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh, cũng nêu rõ doanh nghiệp không nên chỉ xuất hiện ở cuối quá trình đào tạo với vai trò tuyển dụng. Doanh nghiệp có thể cung cấp thông tin về nhu cầu nhân lực, tham gia góp ý chương trình, hỗ trợ các hoạt động học tập và dự án, đồng thời phản hồi về kết quả đào tạo. Mô hình liên kết giữa nhà trường-doanh nghiệp-người học-thị trường số, trong đó thông tin từ thực tiễn nghề nghiệp được phản hồi trở lại để cơ sở đào tạo điều chỉnh chương trình và phương thức tổ chức học tập. Nếu được vận hành thường xuyên, mối quan hệ trường-doanh nghiệp sẽ không còn dừng ở một kỳ thực tập cuối khóa mà trở thành một phần của quá trình đào tạo.
Tiến sỹ Phạm Huy Quang, Hiệu trưởng Trường Đại học Sân khấu-Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh cũng nhìn nhận sự đồng hành của doanh nghiệp là một trong những yếu tố cần thiết để sinh viên có thêm cơ hội tham gia các dự án phim, sân khấu quy mô lớn và trực tiếp trải nghiệm quy trình sản xuất chuyên nghiệp.
Tuy nhiên, đưa doanh nghiệp vào giảng đường không đồng nghĩa biến nhà trường thành nơi đào tạo nhân lực cho nhu cầu tức thời của thị trường. Cơ sở đào tạo vẫn giữ vai trò xây dựng nền tảng chuyên môn, văn hóa, thẩm mỹ và khả năng tự học lâu dài; còn doanh nghiệp và đơn vị nghệ thuật đem đến những tình huống lớp học khó mô phỏng đầy đủ, từ áp lực tiến độ, chi phí, biến động tại hiện trường đến yêu cầu của đối tác và phản ứng của khán giả.
Hai môi trường vì thế bổ sung cho nhau: nhà trường tạo nền tảng để người học phát triển lâu dài, còn thực tiễn nghề nghiệp giúp họ kiểm nghiệm kiến thức và hình thành khả năng thích ứng. Điều cần thiết là đưa sự kết nối này từ những sáng kiến riêng lẻ thành cơ chế hợp tác thường xuyên, để sinh viên có thể tiếp cận dự án thực tế ngay trong quá trình học và người làm nghề có thể tham gia phản hồi cho hoạt động đào tạo.
Khi đó, mục tiêu không chỉ là giúp một sinh viên đủ khả năng tìm việc sau khi tốt nghiệp, mà còn tạo dòng chảy nhân lực giữa nhà trường và đời sống sáng tạo. Đây cũng là tiền đề để nguồn nhân lực sau đào tạo tiếp tục được kết nối với doanh nghiệp, thiết chế văn hóa, các tổ chức nghề nghiệp và thị trường - những thành tố quyết định khả năng vận hành của công nghiệp văn hóa./. (Còn nữa)
Mời độc giả đón đọc chùm bài tại đây:
Đọc bài gốc tại đây.