Đại biểu Quốc hội đề nghị không cho phép gia tăng tổng tải lượng của thông số ô nhiễm đã vượt khả năng chịu tải của nguồn nước.
Đại biểu Quốc hội đề nghị không cho phép gia tăng tổng tải lượng của thông số ô nhiễm đã vượt khả năng chịu tải của nguồn nước.
Không để nguồn nước tiếp tục quá tải vì một thông số ô nhiễm
Thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, đại biểu Bùi Văn Dũng - Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa tán thành việc sửa đổi luật nhằm ngăn chặn tình trạng chuyển dịch chi phí ô nhiễm từ hoạt động sản xuất, kinh doanh sang người dân và ngân sách nhà nước.
Theo đại biểu, một dự án có thể mang lại lợi nhuận nhưng xã hội vẫn phải chịu thiệt nếu chi phí ô nhiễm bị đẩy sang cộng đồng. Vì vậy, cần quán triệt quan điểm không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế. Nghĩa vụ trả chi phí ô nhiễm không thể được hiểu là trả tiền để có quyền gây ô nhiễm, bởi có những tổn hại đối với hệ sinh thái không thể khắc phục chỉ bằng tiền.
Góp ý về quy định kiểm soát hoạt động xả thải, đại biểu cho rằng dự thảo vẫn gắn điều kiện hạn chế xả thải với việc nguồn nước hết khả năng chịu tải đối với tất cả các thông số bắt buộc đánh giá. Cách tiếp cận này cần được làm rõ hơn, nhất là trường hợp chỉ một thông số đã vượt ngưỡng chịu tải.
Đại biểu phân tích, một đoạn sông có thể đã quá tải tổng ni-tơ, trong khi vẫn còn khả năng tiếp nhận các chất ô nhiễm khác. Tuy nhiên, khả năng tiếp nhận những chất khác không làm giảm rủi ro do ni-tơ gây ra. Nước thải có nồng độ chất ô nhiễm thấp vẫn có thể tạo ra tải lượng lớn nếu lưu lượng xả thải cao. Do đó, không thể chỉ dựa vào nồng độ để kết luận việc xả thải là an toàn.
Từ phân tích này, đại biểu đề nghị quy định rõ nguyên tắc không làm tăng tổng tải lượng đối với thông số đã hết khả năng chịu tải. Quy định cần hướng tới bảo đảm an toàn nguồn cấp nước sinh hoạt, đồng thời giao Chính phủ hướng dẫn cách thức chứng minh và giám sát việc thực hiện.
Làm rõ quyền tài sản đối với tín chỉ các-bon
Vấn đề thứ hai được đại biểu Bùi Văn Dũng đề cập là địa vị pháp lý và quyền hưởng lợi hợp pháp từ hoạt động đầu tư giảm phát thải.
Theo đại biểu, dự thảo sửa đổi đã xác định tín chỉ các-bon là hàng hóa được giao dịch, nhưng địa vị pháp lý của loại tài sản này vẫn cần được nghiên cứu, làm rõ. Đại biểu đề nghị đối chiếu với quy định về quyền tài sản tại Điều 115 Bộ luật Dân sự, qua đó xác định quyền của chủ thể sở hữu tín chỉ hợp lệ, điều kiện chuyển giao và hậu quả pháp lý khi tín chỉ bị thu hồi hoặc hủy bỏ.
Đại biểu lưu ý không nên đồng nhất tín chỉ các-bon với hạn ngạch phát thải vì hai loại này có căn cứ hình thành khác nhau. Việc làm rõ quyền và rủi ro pháp lý sẽ giúp doanh nghiệp có cơ sở tính toán, quyết định đầu tư vào công nghệ sạch.
Theo đại biểu, đây cũng là vấn đề bảo đảm công bằng đối với những chủ thể bỏ vốn và công sức để thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường, giảm phát thải.
Đại biểu nhấn mạnh luật cần gắn lợi ích tăng trưởng với trách nhiệm môi trường ngay từ quyết định đầu tư. Các quy định phải bảo vệ người chịu tác động, khuyến khích chủ thể tạo ra lợi ích môi trường, hướng tới phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Đọc bài gốc tại đây.